Menu

Video

Bài ca công đoàn
liên đoàn lao động
Văn bản huyện
Qc left4
qc left 3

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 69


Hôm nayHôm nay : 84

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1756

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 57534

Trang nhất » Giới thiệu

Đề cương tuyenn truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam

ĐỀ CƯƠNG
TUYÊN  TRUYỀN 90 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
(28/7/1929 - 28/7/2019)
                                                              -----      
I. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÔNG HỘI ĐỎ-TIỀN THÂN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1. Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân  Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô rộng ra cả nước. Các nhà máy rượu bia, sợi vải, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà phê… lần lượt ra đời và cùng với đó đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng mỏ Quảng Ninh… Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt may… nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lên đến 22 vạn người vào đầu năm 1929.
Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
2. Sự ra đời của Công hội Đỏ Bắc Kỳ - tiền thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay
Quá trình hình thành và phát triển của Công hội Đỏ Bắc Kỳ gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Người đã tham gia Công đoàn hải ngoại Anh khi hoạt động tại Luân Đôn trong những năm 1914 - 1917; gia nhập Công đoàn Kim khí quận 17 Pari vào năm 1919. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong tác phẩm "Đường Kách mệnh" Người chỉ dẫn: "Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới". Tháng 6/1925, Người sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu - Trung Quốc và trực tiếp giảng dạy nhằm nâng cao lý luận chính trị cho học viên.
Những năm 1925 - 1928, dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào "Vô sản hóa" đã thâm nhập sâu rộng vào các nhà máy, xí nghiệp, hầm lò để tuyên truyền, vận động công nhân tích cực tham gia phong trào đấu tranh. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên (3/1929), đặc biệt là sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929) là kết quả của quá trình vận động, tổ chức công nhân mà Nguyễn Đức Cảnh là một trong những sáng lập viên và giữ vai trò quan trọng. Trên cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Nguyễn Đức Cảnh được Trung ương lâm thời phân công phụ trách công tác vận động công nhân. Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức Công hội, của công nhân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc bóc lột, bảo vệ quyền lợi của công nhân, Nguyễn Đức Cảnh và những người đồng chí đã tích cực tổ chức cuộc vận động phong trào công nhân, trước hết là phong trào công nhân Bắc Kỳ để thành lập tổ chức Công hội. Ngày 28/7/1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh chủ trì. Đại hội đã quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông qua Điều lệ và hệ thống tổ chức của Công hội, ra báo "Lao động" và tạp chí "Công hội Đỏ", bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Hội trưởng. Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Kể từ đây, GCCN Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, đứng ra dẫn dắt phong trào.
II. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN QUA CÁC THỜI KỲ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng Cộng hội Đỏ đã tập hợp lực lượng thợ thuyền, đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam, tạo nên cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931. Cuối năm 1931, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp dã man, hầu hết số cán bộ Đảng và Công hội Đỏ đều bị địch bắt, khiến cho mối liên lạc giữa Đảng và quần chúng, giữa Công hội Đỏ và phong trào công nhân gần như bị gián đoạn. Trong điều kiện đó, bất chấp sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, Công hội Đỏ vẫn tích cực tuyên truyền, vận động công nhân, phát triển tổ chức. Từ năm 1932 - 1936, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu phục hồi.
Từ năm 1936 - 1939, tổ chức Công hội Đỏ đổi tên thành Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu chuyển sang thời kỳ hoạt động bán công khai[1]. Nhờ sự tổ chức linh hoạt, thích hợp với tình hình, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn phát triển mạnh mẽ lên đỉnh điểm mới. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật, thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta, thủ tiêu các quyền tự do nghiệp đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu phải rút vào hoạt động bí mật và lấy tên là "Hội Công nhân phản đế", năm 1941 đổi thành "Hội Công nhân cứu quốc" làm nòng cốt cho hoạt động của tổ chức Việt Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của công nhân lao động Việt Nam. Với trên 20 vạn người trong năm 1945, các đoàn viên Công đoàn trở thành lực lượng nòng cốt làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Công - Nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3/1946, Hội nghị đại biểu Công nhân cứu quốc Bắc Bộ, Trung Bộ và Tổng Công đoàn Nam Bộ đã quyết định thống nhất về mặt tổ chức trên phạm vi cả nước thành "Hội Công nhân cứu quốc". Tháng 6/1946, tại Hội nghị cán bộ Công đoàn cứu quốc đã đổi tên "Hội Công nhân cứu quốc" thành "Công đoàn". Ngày 20/7/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam" đã chính thức được thành lập và được công nhận là thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới vào năm 1949.
Trong những năm đầu đất nước giành độc lập, tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám, tham gia tích cực vào cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, các đội cảm tử Thủ đô, trong đó nòng cốt là công nhân đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, anh dũng.
Thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động tập trung xây dựng nhà máy, công xưởng, sản xuất vũ khí, khí tài quân sự; khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động phục vụ kháng chiến. Tại chiến khu Việt Bắc, từ ngày 01 - 15/01/1950, Đại hội lần I Công đoàn Việt Nam đã khẳng định mục tiêu: "Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi". Tại Đại hội này, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch.
Tháng 02/1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế phục vụ tổng phản công, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, Công đoàn vận động công nhân hăng hái sản xuất và tham gia quản lý, xây dựng xí nghiệp. Đây là bước chuyển biến lớn và nhận thức tư tưởng và phương thức hoạt động Công đoàn. Từ đây trong các xí nghiệp quốc doanh, Công đoàn đại diện cho công nhân tham gia các ủy ban xí nghiệp, góp phần trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế kháng chiến phát triển về mọi mặt. Ở vùng tự do, Công đoàn phát động công nhân "Thi đua sản xuất, thi đua xây dựng", "Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề nghiệp". Phong trào được tổ chức, chỉ đạo tương đối chặt chẽ, thực hiện dân chủ trong quản lý sản xuất.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đấu tranh kiên cường, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biện Phủ (1954) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.
Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là "Cần phải động viên, tổ chức đông đảo quần chúng lao động trong các đô thị thành một lực lượng mạnh mẽ làm chỗ dựa tốt nhất, chắc chắn nhất cho chính quyền tiến hành công tác tiếp thu, phục hồi sản xuất, gìn giữ an ninh, trật tự thành phố".
Ở miền Bắc tiến hành công cuộc tái thiết đất nước, khó khăn tiếp tục đặt lên vai người công nhân. Với trách nhiệm chủ nhân của đất nước, đội ngũ công nhân, viên chức, lao động đã đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã phục hồi. Qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những điển hình trong phong trào thì đua yêu nước của giai cấp công nhân được lan tỏa, như "Sóng Duyên Hải", "Hợp tác xã Thành Công", "Ba quyết tâm" … đã xuất hiện nhiều công nhân, viên chức, lao động tiêu biểu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và chiến đấu.
Ở miền Nam, phong trào công nhân, Công đoàn hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của công nhân, viên chức, lao động khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân đấu tranh.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến lên CNXH, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, thành quả đó có đóng góp quan trọng của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Trước những yêu cầu mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 đến ngày 27/02/1961 đã quyết định đổi tên "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam" thành "Tổng Công đoàn Việt Nam". Đại hội đề ra mục tiêu: "Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà"; đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 11 - 14/2/1974 tại Hà Nội, bầu đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là "Các cấp Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".
Tổng Công đoàn Việt Nam tham gia xây dựng một số chế độ, chính sách bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền lương, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành phố đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với công nhân, viên chức, lao động. Nhiều Công đoàn cơ sở đã kịp thời động viên công nhân, viên chức, lao động thi đua lao động, sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Việc thực hiện quy tắc an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được thực hiện tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân, viên chức, lao động.
Năm 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập, đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ chức cho công nhân, viên chức, lao động các thành phố đấu tranh, vừa động viên công nhân, viên chức, lao động vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận động công nhân, viên chức, lao động ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
4. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1975 - 1986)
Đầu năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, tạo điều kiện cơ bản để thống nhất tổ chức Công đoàn trên phạm vi cả nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976, Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho việc thống nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam, Bắc thành "Tổng Công đoàn Việt Nam".
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 08 - 11/5/1978 đã nêu rõ mục đích: "Động viên GCCN và những người lao động khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước"; đồng chí Nguyễn Văn Linh - Ủy viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ tịch.
Những năm 1981 - 1982, Công đoàn đã tiến hành nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức về tình hình và nhiệm vụ của đất nước, về chủ trương, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao; công tác báo chí, xuất bản của Công đoàn đã có những tiến bộ mới.
Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam tiến hành từ ngày 16 - 18/11/1983 đã khẳng định mục tiêu: "Động viên công nhân, lao động thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng, là phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu", Đại hội quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Chủ tịch.
Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong công nhân, viên chức, lao động đã tạo được bước chuyển biến tích cực, nhiều điển hình tiên tiến và nhân tố mới được hình thành, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, Công đoàn còn tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề nghị Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, trợ cấp khó khăn… Các chế độ nghỉ ngơi, tham quan du lịch và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao duy trì và phát triển.
Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
5. Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2019)
Trong tình hình đất nước tiến hành đổi mới, từng bước hội nhập, Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 17 - 20/10/1988 tại Hà Nội đã xác định mục tiêu: "Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội". Đại hội Quyết định đổi tên "Tổng Công đoàn Việt Nam" thành "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam"; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đưa đất nước ta dần thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống nhân dân và CNVCLĐ.
Đại hội lần thứ VII Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 09 - 12/11/1993 tại Hà Nội đã nhấn mạnh yêu cầu "Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp hần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chăm lo, bảo vệ lợi ích công nhân lao động"; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ VIII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 03 - 06/11/1998 nhấn mạnh "Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh"; đồng chí Cù Thị Hậu được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10 - 13/10/2003, đồng chí Cù Thị Hậu tiếp tục được bầu làm Chủ tịch, Đại hội đã khẳng định "Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của giai cấp công nhân, góp phần tăng cường đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Đại hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 02 - 05/11/2008 đã xác định mục tiêu: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động làm đối tượng vận động, chuyển mạnh hoạt động Công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước"; đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch.
Nhiệm kỳ lần thứ X của Công đoàn Việt Nam hoạt động trong bối cảnh giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về xây dựng GCCN, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu công nhân, viên chức, lao động trong cả nước. Những hoạt động triển khai thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Công đoàn đã tạo được chuyển biến trong cả nhiệm kỳ hoạt động, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên và người lao động.
Đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 27 - 30/7/2013 đã xác định phương châm hành động, đó là "Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn"; đồng chí Đặng Ngọc Tùng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch, Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam diễn ra từ ngày 24 - 26/9/2018, đồng chí Bùi Văn Cường được bầu làm Chủ tịch. Đại hội đã xác định 09 nhóm mục tiêu, 09 nhiệm vụ tổng quát và 03 khâu đột phá trong cả nhiệm kỳ, ngoài ra còn có 01 chương trình trọng tâm "Công đoàn Việt Nam đồng hành cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển bền vững đất nước".
Có thể khẳng định rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, trải qua 07 kỳ Đại hội Công đoàn Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1. Những bài học kinh nghiệm
(1) Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi trong hoạt động Công đoàn Việt Nam. Bám sát thực tiễn, tổ chức thực hiện sáng tạo chủ trương của Đảng, đồng thời chủ động nghiên cứu, tham mưu kịp thời định hướng phát triển phong trào công nhân và hoạt động công đoàn; phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, hình thành sức mạnh tổng hợp trong hoạt động công đoàn.
(2) Quan tâm chăm lo lợi ích chính đáng của đoàn viên, lấy lợi ích là điểm quan trọng tập hợp, thu hút người lao động đến với tổ chức Công đoàn; tạo sự khác biệt rõ hơn những quyền, lợi ích của người lao động là đoàn viên công đoàn và chưa là đoàn viên công đoàn để tăng cường sự gắn kết giữa đoàn viên với tổ chức Công đoàn.
(3) Thực hiện tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động. Tiến hành đồng bộ ba khâu: Tham gia xây dựng, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát chế độ, chính sách với sự phân công trách nhiệm của từng cấp công đoàn, đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người lao động.
(4) Chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn, kịp thời thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thực tế. Coi trọng chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy nhu cầu hợp pháp, chính đáng của số đông đoàn viên, người lao động làm nền tảng cho hoạt động công đoàn, phát huy tính tự giác, tự nguyện gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn của đoàn viên, người lao động.
(5) Chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn trong tình hình mới. Thường xuyên quan tâm, đầu tư công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn một cách cơ bản, có chiều sâu, tính lâu dài; thực hiện chính sách động viên hợp lý về vật chất, tinh thần; bảo vệ hiệu quả quyền lợi hợp pháp của cán bộ công đoàn.
2. Nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay
(1) Phát triển đa dạng, hiệu quả các hoạt động chăm lo lợi ích cho đoàn viên, người lao động. Đổi mới cơ chế hoạt động xã hội của Công đoàn theo hướng góp phần đảm bảo quyền an sinh xã hội. Nâng cao năng lực đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động, cán bộ Công đoàn; chủ động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
(2) Tiến hành thường xuyên, đồng bộ, chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho người lao động. Chủ động thông tin về tổ chức và hoạt động Công đoàn, chú trọng công tác định hướng thông tin trên Internet và mạng xã hội. Tham gia xây dựng môi trường văn hóa tích cực trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu công nghiệp; đời sống tinh thần lành mạnh cho người lao động. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền đồng cấp về những vấn đề mới, diễn biến trong phong trào công nhân, viên chức, lao động và tổ chức công đoàn.
(3) Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động công đoàn; chú trọng công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở gắn liền với việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn; đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
(4) Nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng cho phù hợp với điều kiện sống, làm việc, công tác của cán bộ, công nhân, viên chức, lao động. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các mô hình, điển hình mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao.
(5) Thực hiện toàn diện và chất lượng công tác nữ công ở các cấp công đoàn, trọng tâm là quyền và việc làm bền vững của lao động nữ; xây dựng gia đình công nhân, viên chức, lao động no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; chăm lo tốt hơn con công nhân, viên chức, lao động.
(6) Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam; phát huy hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế hỗ trợ cho hoạt động công đoàn.
(7) Nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát công đoàn. Kiện toàn ủy ban kiểm tra và văn phòng ủy ban kiểm tra Công đoàn các cấp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
(8) Tăng cường công tác quản lý thu, chi tài chính, quản lý tài sản công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, thực hiện phân phối công bằng, hiệu quả; xây dựng nguồn lực đủ mạnh để đáp ứng nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới.
(9) Đổi mới phương thức chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo hướng lấy người lao động làm trung tâm; hoạt động chủ yếu ở cơ sở; công đoàn cấp trên phục vụ công đoàn cấp dưới; phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh. Đẩy mạnh cải cách hành chính; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.
IV. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG CỦA CÔNG ĐOÀN TỈNH QUẢNG NAM
1. Khái quát quá trình thành lập và phát triển của Công đoàn tỉnh Quảng Nam
Năm 1928, Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng tỉnh Quảng Nam được thành lập đã hướng Hội Ái hữu hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của mình. Đồng chí Phan Văn Định, sau này là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam đã tích cực xây dựng phong trào công nhân, tổ chức công hội. Kết quả, đầu năm 1929, tổ Công hội đầu tiên được thành lập ở Hội An và sau đó phát triển thành ba tổ, tập hợp nhiều công nhân, dân nghèo thành thị, bán hàng rong, công nhân vệ sinh.
Tháng 12/1929, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ Đông Dương Cộng sản tỉnh Quảng Nam, Tổng Công hội đỏ Đà Nẵng ra đời. Đây là bước ngoặt lịch sử quan trọng, đánh dấu thời kỳ mới của phong trào công nhân lao động Quảng Nam và Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu bức thiết là sự đòi hỏi có tổ chức tập trung, thống nhất nhằm đưa phong trào công nhân phát triển hơn nữa.
Trải qua 90 năm xây dựng và trưởng thành, do yêu cầu nhiệm của từng thời kỳ cách mạng, Công đoàn tỉnh Quảng Nam đã nhiều lần thay đổi tên gọi:
- Hội Ái hữu, Công hội đỏ (1929 - 1936).
- Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu (1936 -1939).
- Công nhân phản đế (1939 - 1941).
- Công nhân cứu quốc (1941 - 1946).
- Liên hiệp Công đoàn (1946-1954).
- Nghiệp đoàn (1954 -1973).
- Liên hiệp Công đoàn giải phóng (1973 -1975).
- Liên hiệp Công đoàn (1975 - 1988).
- Liên đoàn Lao động (1988 đến nay).
Trong 90 năm, Công đoàn tỉnh Quảng Nam đã tiến hành 16 kỳ Đại hội:
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ I  (8/1946), tại Hội An.
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ II  (03/1947).
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ III (03/1950).
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn giải phòng tỉnh Quảng Nam lần thứ IV vào tháng 03/1974, tại xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước.
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ VII tại thành phố Đà Nẵng, từ ngày 8 đến ngày 11/8/1977 [2].
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ VIII tại thành phố Đà Nẵng, ngày 18/12/1980.
- Đại hội Liên hiệp Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ IX tại thành phố Đà Nẵng, ngày 18/8/1983.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ X tại thành phố Đà Nẵng, vào ngày 10/9/1988.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ XI tại thành phố Đà Nẵng, vào ngày 06/7/1993.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ XII tại thị xã Tam Kỳ, từ ngày 24 đến ngày 25/6/1998.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ XIII tại thị xã Tam Kỳ, từ ngày 18 đến ngày 19/6/2003.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ XIV tại thành phố Tam Kỳ, từ ngày 24 đến ngày 26 /6/2008.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ XV tại thành phố Tam Kỳ, từ ngày 05 đến ngày 07/ 7/2013.
- Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam lần thứ XVI tại thành phố Tam Kỳ, từ ngày 8 đến ngày 10/5/2018.
2. Những chặng đường vẻ vang của Công đoàn tỉnh Quảng Nam
Từ năm 1929 đến năm 1933, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã để lại hậu quả nặng nề cho các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Nhiều ngành sản xuất bị đình trệ, nhiều công nhân lao động bị mất việc làm, bị cúp lương. Giữa lúc đó, vào ngày 28/03/1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam ra đời đã trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân lao động và tổ chức Công hội đỏ. Kết quả, Công hội đỏ phát triển ở nhiều địa phương, như Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Tam Kỳ và mạnh nhất là tại Hội An.
Trong những năm 1936 - 1939, Đảng ta có điều kiện hoạt động công khai và lãnh đạo phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp. Nét mới của thời kỳ này là đã có một số chi bộ Đảng được thành lập trong công nhân lao động. Tiếp theo, trong những năm 1939 - 1945, theo chủ trương mới của Đảng, mục tiêu đấu tranh của công nhân lao động và công đoàn là đánh đổ ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân. Theo đó, lần lượt Hội Công nhân phản đế, Hội Công nhân cứu quốc ra đời và phát triển rộng khắp. Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, để củng cố các tổ chức quần chúng, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, tháng 8/1946, Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Nam quyết định đổi tên Hội Công nhân cứu quốc thành Liên hiệp Công đoàn và giữ nguyên tên gọi Hội công nhân cứu quốc ở các huyện.
Sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ (21/07/1954) được ký kết, trước những âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ, đội ngũ công nhân, viên chức, lao động trong tỉnh đã sát cánh cùng toàn dân một lần nữa đứng lên đấu tranh chống chế độ độc tài tay sai, chống giới chủ bóc lột, đòi thống nhất nước nhà.
Từ cuối năm 1959, phong trào cách mạng của tỉnh Quảng Nam có nhiều chuyển biến, chuyển từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang kết hợp với đấu tranh vũ trang. Phong trào đấu tranh ở đô thị kết hợp với phong trào công nhân diễn ra ngày càng sôi nổi. Nhiều tổ chức nghiệp đoàn ra đời để lãnh đạo công nhân, viên chức, lao động đấu tranh, nhất là ở các đô thị Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ. Các tổ chức nghiệp đoàn ra đời không chỉ giúp công nhân, viên chức, lao động trong lao động, cuộc sống mà còn là lực lượng quan trọng trong các cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai.
Để đẩy mạnh vận động công nhân, viên chức, lao động, năm 1967, Đặc Khu ủy Quảng Đà thành lập Ban Công vận, Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập Ban Công vận thị xã Tam Kỳ. Tháng 06/1970, Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập Ban Công vận tỉnh. Nhiệm vụ của các Ban Công vận là tập trung tuyên truyền, vận động công nhân tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phù hợp.
Sau Hiệp định Pari được ký kết (01/1973), Liên hiệp Công đoàn giải phóng tỉnh Quảng Nam và đặc khu Quảng Đà được thành lập. Đây là bước ngoặt trong hoạt động công đoàn và phong trào công nhân, viên chức, lao động tỉnh Quảng Nam, tạo điều kiện phát triển tổ chức công đoàn ở các đô thị và đẩy mạnh phong trào CNLĐ.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng địa phương, công nhân, viên chức, lao động Quảng Nam cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh, công nhân, viên chức, lao động Quảng Đà và Quảng Nam đã dũng cảm, kiên cường, tích cực tham gia kháng chiến bằng mọi khả năng, kết hợp với phong trào đấu tranh ở đô thị, phong trào đấu tranh ở nông thôn, đồng bằng, liên tục tiến công địch trên nhiều mặt trận. Cùng cả nước thực hiện mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, vào tháng 10/1975, Liên hiệp Công đoàn giải phóng tỉnh Quảng Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng đặc khu Quảng Đà sát nhập thành Liên hiệp Công đoàn tỉnh QN-ĐN và đến năm 1977 đổi thành tên thành Liên hiệp Công đoàn tỉnh QN-ĐN. Từ trên đỉnh cao của thắng lợi, cùng với nhân dân trong tỉnh, công nhân, viên chức, lao động bước vào thời kỳ mới - thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; hăng hái tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng lại quê hương. Đội ngũ công nhân, viên chức, lao động đã có mặt trên khắp các mặt trận của quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, nhất là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, y tế.
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo đã tạo ra một luồng sinh khí mới, khơi dậy tiềm năng, tạo sự chuyển biến cơ bản, sâu sắc trong đời sống xã hội, trong đó có hoạt động của tổ chức công đoàn và phong trào công nhân, viên chức, lao động.
Năm 1988, thực hiện Điều lệ Công đoàn Việt Nam lần thứ VI, Liên hiệp Công đoàn tỉnh QN- ĐN đổi thành Liên đoàn Lao động tỉnh QN- ĐN; Liên hiệp Công đoàn các huyện đổi thành Liên đoàn lao động huyện; chức danh Thư ký đổi thành Chủ tịch. Thực hiện chủ trương sắp xếp công đoàn cấp huyện, mở rộng công đoàn ngành, năm 1996, thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Liên đoàn lao động tỉnh đã giải thể Liên đoàn lao động các huyện Giằng, Hiên, Phước Sơn, Trà My, Tiên Phước, chuyển công đoàn cơ sở các huyện này về trực thuộc Liên đoàn lao động tỉnh; giải thể và thành lập ban cán sự công đoàn các huyện Đại Lộc, Quế Sơn, Núi Thành và Thăng Bình; thành lập Công đoàn ngành Xây dựng và Công đoàn Viên chức tỉnh.
Từ ngày 01/01/1997, sau khi tách tỉnh QN -ĐN, Công đoàn tỉnh Quảng Nam được tổ chức theo đơn vị hành hành mới – Liên đoàn lao động tỉnh Quảng Nam.
Hơn 22 năm, Công đoàn tỉnh Quảng Nam đã có bước phát triển vượt bậc về mặt tổ chức, số lượng đoàn viên. Từ chỗ chỉ có 8 Liên đoàn lao động, ban cán sự công đoàn huyện, thị xã với 26.722 đoàn viên, 475 công đoàn cơ sở với 30.880 người lao động, đến cuối năm 2018, cả tỉnh có 23 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (18 LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố và 5 công đoàn ngành: Viên chức, Giáo dục, Y tế, Xây dựng, Các Khu công nghiệp), 1.928 công đoàn cơ sở với 129.863 đoàn viên và gần 150.000 NLĐ, được xếp loại l trong cả nước về quy mô số lượng đoàn viên và công đoàn cơ sở.
Điều đáng ghi nhận là Công đoàn tỉnh Quảng Nam đã không ngừng nỗ lực, từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đã đạt những kết quả đáng mừng.
Đã tập trung thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên và người lao động , bởi đây là chức năng trung tâm, mục tiêu hoạt động của công đoàn. Một mặt tích cực chủ động hoặc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các văn bản luật liên quan đến quyền lợi hợp pháp của đoàn viên và người lao động, nhất là Hiến pháp, Bộ luật Lao động và các văn bản khác. Mặt khác phối hợp với các cơ quan chức năng đồng cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về lao động, các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của đoàn viên và người lao động tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Đồng thời, đã có nhiều hình thức tư vấn pháp luật cho đoàn viên và người lao động; chỉ đạo phối hợp triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và chương trình “Nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả Thỏa ước lao động tập thể”.
Duy trì tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn ca của người lao động; tổ chức Chương trình “Tết Sum vầy”, “Chương trình phúc lợi đoàn viên”, “Mỗi Công đoàn cơ sở - mỗi lợi ích đoàn viên” và những hoạt động chăm lo người lao động có hoàn cảnh khó khăn trong dịp Tết, Tháng Công nhân. Chỉ từ năm 2012 đến năm 2018 đã hỗ trợ đoàn viên, người lao động khó khăn, tai nạn lao động, bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp, gặp thiên tai, ngư dân gặp khó khăn khi hoạt động trên biển…với tổng số tiền 18 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng trên 400 nhà “Mái ấm công đoàn” cho đoàn viên, người lao động khó khăn về nhà ở, số tiền trên 13 tỷ đồng.
Công đoàn đã làm nòng cốt trong các phong trào thi đua trong người lao động. Duy trì các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Xanh- sạch- đẹp, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động”,“Văn hóa, thể thao”,“Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, Cuộc vận động xây dựng người cán bộ, công chức, viên chức: “Trung thành, trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo”. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh triển khai sâu rộng và đem lại hiệu quả tích cực.
Công tác phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS đạt kết quả cao, nhất là ở khu vực ngoài nhà nước. Bình quân mỗi năm từ 2014 đến 2018 kết nạp mới trên 12.000 đoàn viên và thành lập 50 Công đoàn cơ sở. Công tác xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh được quan tâm đúng mức. Chất ượng hoạt động của công đoàn cơ sở được nâng lên, lấy lợi ích làm điểm tập hợp, thu hút người lao động; tỷ lệ Công đoàn cơ sở đạt vững mạnh hàng năm đạt trên 81,6%. Công tác quản lý đoàn viên đi dần vào nề nếp, đã triển khai chương trình phần mền quản lý đoàn viên, tiến hành đổi thẻ đoàn viên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn được tiến hành thường xuyên, đội ngũ cán bộ chuyên trách công đoàn đều đạt chuẩn theo quy định.
Công tác nữ công ngày càng đem lại hiệu quả, thiết thực, nhất là tham gia chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nữ công nhân, viên chức, lao động. Công tác tài chính công đoàn ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo đúng quy định của Tổng Liên đoàn và quy định của Chính phủ. Đã phân cấp quản lý tài chính 22/23 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát công đoàn đã tập trung kiểm tra Điều lệ Công đoàn Việt Nam, kiểm tra việc thu, phân phối, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, góp phần làm lành mạnh tài chính công đoàn. Quan hệ đối ngoại bước đầu đem lại hiệu quả tích cực, nhất là đối với Liên hiệp Công đoàn tỉnh Sê Koong và Liên hiệp Công đoàn tỉnh Chămpasắc, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Có thể nói các cấp công đoàn tỉnh Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực, triển khai thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, qua đó không ngừng nâng cao vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Điều đáng ghi nhận là chính lực lượng người lao động do công đoàn trực tiếp tổ chức hoạt động đã đóng vai trò chủ yếu trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam trong hơn 20 năm qua.
Với những thành tích trên, các cấp công đoàn và đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp đã được Đảng, Nhà nước và các cấp tặng nhiều danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng cao quý: Cờ thi đua Chính phủ (2010, 2015 ), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2011), Huân Chương Độc lập hạng Ba (2004) và hàng trăm huân chương, bằng khen, cờ thi đua xuất sắc khác.
3. Một số kinh nghiệm
- Tuân thủ sự chỉ đạo, hướng dẫn của công đoàn cấp trên và sự lãnh đạo của cấp ủy; xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ CĐCS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Dù ở thời kỳ nào, lúc còn hoạt động bí mật hay công khai, hoạt động của Công đoàn tỉnh Quảng Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy và sự chỉ đạo, hướng dẫn của công đoàn cấp trên. Sự lãnh đạo của cấp ủy là toàn diện và tuyệt đối, nhất là về công tác chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ. Do tính đặc thù của tổ chức công đoàn nên công đoàn cấp trên không chỉ hướng dẫn về chuyên môn mà còn cả công tác tổ chức, cán bộ, tài chính. Do vậy, tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của công đoàn cấp trên và sự lãnh đạo của cấp ủy là điều kiện đảm bảo cho công đoàn hoạt động đúng mục đích đề ra.
- Thực hiện tốt công tác phối hợp; tranh thủ các nguồn lực để tổ chức phong trào công nhân, viên chức, lao động, nhất là chăm lo đời sống đoàn viên và NLĐ
 Bất kể thời kỳ nào, lúc thuận lợi cũng như khó khăn, việc phối hợp công tác là một trong những phương pháp hoạt động được các các cấp công đoàn quan tâm. Điều này sẽ tạo thêm nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ. Nói cách khác, việc phối hợp với các cấp chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội, các ban, ngành liên quan sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp tổ chức công đoàn hoàn thành nhiệm vụ của mình. Việc phối hợp này thông qua quy chế, chương trình công tác, kế hoạch hoạt động chung.
- Thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động
Đổi mới nội dung và phương thức là một yêu cầu trong hoạt động của các cấp công đoàn. Đổi mới để phù hợp với tình hình thực tiễn và thu hút, tập hợp người lao động , đảm bảo thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ. Đặc biệt, cần đổi mới và đa dạng các hình thức tuyên truyền để tập hợp giáo dục NLĐ, thuyết phục người sử dụng lao động ủng hộ công tác phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn ở doanh nghiệp, nhất là là ở khu vực ngoài Nhà nước.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kịp thời biểu dương những đơn vị, cá nhân làm tốt, phát hiện và xử lý các đơn vị, cá nhân vi phạm; nhân rộng điển hình
Công đoàn thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát là thực hiện quyền của mình đã được pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam công nhận, nhằm góp phần thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động. Từ năm 1997 đến năm 2018, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các công đoàn tỉnh Quảng Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam và nhiệm vụ của đơn vị, góp phần đẩy mạnh phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn.
Giám sát là một nhiệm vụ trong công tác kiểm tra nói chung của các cấp công đoàn. Kinh nghiệm cho thấy muốn làm tốt công tác này, điều cần thiết là phải nắm bắt phạm vi của công tác giám sát, chọn nội dung phù hợp và có sự phối hợp với các ngành, nhất là các ngành liên quan đến pháp luật lao động và chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Qua kiểm tra, thanh tra, giám sát, cần phát huy ưu điểm, chỉ rõ tồn tại, hạn chế, nếu vi phạm phải kiên quyết xử lý để công tác kiểm tra có tác dụng răn đe, giáo dục. Khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến là một hình thức nhằm ghi nhận những đóng góp trong phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn của các cá nhân, đơn vị. Điều này có tác dụng khích lệ phong trào, động viên mỗi tập thể, cá nhân phấn đấu hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều sáng kiến cải tiến nâng cao năng suất, hiệu quả công việc.
Với 90 năm lịch sử, với kinh nghiệm tổ chức hoạt động, đặc biệt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự hỗ trợ và phối hợp của chính quyền và các ban, ngành, địa phương liên quan, Công đoàn tỉnh Quảng Nam sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ vừa là đoàn thể nhân dân, vừa là tổ chức đại diện cho người lao động./.
 
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY - LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH QUẢNG NAM


[1] Tại một số nơi, mặc dù bị địch ngăn cản, nhiều nghiệp đoàn vẫn được thành lập và hoạt động công khai. Những nơi chưa dành được quyền tự do nghiệp đoàn, thì công nhân thành lập hội Ái hữu thay thế. Nên giai đoạn này, tên gọi thường mang tên tổ chức song trùng là "Nghiệp đoàn - Ái hữu".
[2] Từ năm 1977 trở về trước, Công đoàn tỉnh Quảng Nam đã tổ chức 4 kỳ đại hội. Tuy nhiên khi tổ chức Đại hội lần thứ VII, không biết trên cơ sở nguồn tư liệu nào, một số đồng chí cán bộ nguyên lãnh đạo Khu ủy 5 về dự chỉ đạo Đại hội đã cho đây là Đại hội lần thứ VII, không phải là Đại hội lần thứ V.

 

Huân chương lao động

Giới thiệu

Đề cương tuyenn truyền kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN  TRUYỀN 90 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929 -...

Góc nghệ thuật

Đăng nhập thành viên